English Login
 

Noi that hoa phat, Nội thất Hòa Phát, Hoa Phat, Hòa Phát, Noi that van phong, Ban ghe Hoa Phat, Bàn ghế Hòa Phát, ket sat hoa phat, két sắt Hòa Phát, ghe Hoa Phat, ghe van phong, noi that fami, nội thất fami, fami, ban ghe fami, ban lam viec

Các nghiên cứu khoa học của bộ môn

 

I. Các nghiên cứu do bộ môn chủ trì:


1. Nghiên cứu “Đánh giá nhanh về tình hình ma túy, mại dâm và các hành vi nguy cơ nhiễm HIV ở Hải Hương và Thanh Hóa” từ tháng 3/2009

Trường đại học Y tế công cộng phối hợp với tổ chức y tế thế giới (WHO) và trung tâm phòng chống HIV/AIDS Hải Dương và Thanh Hóa tiến hành nghiên cứu Đánh giá nhanh về tình hình nghiện chích ma túy và mại dâm tại 2 địa bàn của tỉnh Hải Dương (thành phố Hải Dương và huyện Chí Linh) và 3 địa bàn của tỉnh Thanh Hóa (thành phố Thanh Hóa, thị xã Sầm Sơn và thị xã Bỉm Sơn). Đánh giá sẽ kết hợp cả nghiên cứu định lượng (phỏng vấn có cấu trúc với những người sử dụng ma túy và hành nghề mại dâm) và nghiên cứu định lượng (phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm với hai nhóm trên và đại diện của cộng đồng, các tổ chức, ban ngành đoàn thể có liên quan). Bên cạnh đó, nhóm đánh giá  sẽ tiến hành vẽ bản đồ các điểm nóng ma túy và mại dâm tại các địa bàn này.  , Các nhóm đồng đẳng viên tại hai tỉnh sẽ được tập huấn để cùng tham gia thu thập số liệu nhằm giúp cho việc tiếp cận đúng mạng lưới của các đối tượng đích (người hành nghề mai dâm và sử dụng ma tuý). Đánh giá dự kiến đưa một bức tranh mô tả sát thực tình hình sử dụng ma túy, hành nghề mại dâm và đưa ra đề xuất xây dựng các can thiệp thích hợp nhằm giảm tác hại của các hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS trong cộng đồng, đặc biệt là trong hai nhóm sử dụng ma túy và hành nghề mại dâm tại hai tỉnh này.


2. Nghiên cứu “Tuân thủ điều trị thuốc kháng virut (ARV) của bệnh nhân AIDS tại Hà Nội và Hải Dương”, đề tài tiến sĩ của Đỗ Mai Hoa được tiến hành từ tháng 112007

Do dịch HIV/AIDS hiện vẫn đang tiếp tục tăng nhanh tại Việt Nam, nên việc điều trị thuốc kháng vi-rút (ARV) cho các bệnh nhân AIDS đang được mở rộng và tăng cường tại nhiều tỉnh/thành trong cả nước. Số bệnh nhân AIDS được tiếp nhận điều trị ARV tăng từ 50 năm 2003 lên hơn 27.000 người năm 2008. Để chương trình điều trị thuốc ARV đạt được hiệu quả và giúp cho các bệnh nhân AIDS thực sự kéo dài được tuổi thọ và nâng cao chất lượng cuộc sống, đòi hỏi bệnh nhân phải tuân thủ điều trị hết sức chặt chẽ. Cho đến nay, hầu như chưa có nghiên cứu nào được thực hiện một cách hệ thống về tuân thủ điều trị ARV tại Việt Nam. Nghiên cứu này sẽ được tiến hành nhằm giảm bớt sự thiếu hụt trên thông qua việc kết hợp nhiều phương pháp như nghiên cứu định tính và điều tra cắt ngang kết hợp với việc thu thập số liệu từ các hồ sơ bệnh án tại 5 cơ sở điều trị ARV cho bệnh nhân AIDS tại Hà nội và Hải Dương. Nghiên cứu định tính sẽ được tiến hành trước để khám phá các yếu tố ảnh hưởng đến việc tuân thủ điều trị ARV thông qua các kĩ thuật thu thập thông tin (như phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm) với nhiều đối tượng khác nhau (bệnh nhân AIDS, người chăm sóc, đồng đẳng viên và cán bộ y tế).  Tiếp theo, với bộ công cụ được xây dựng kỹ lưỡng nhằm đảm bảo tính khoa học và phù hợp với đối tượng nghiên cứu và văn hoá của Việt Nam, cuộc điều tra sẽ được tiến hành với trên 600 bệnh nhân đang điều trị ART để đo lường mức độ tuân thủ điều trị ARV của các bệnh nhân AIDS, đồng thời sẽ xem xét mối liên quan của một số yếu tố cá nhân, gia đình, xã hội, chăm sóc y tế và việc tuân thủ điều trị của bệnh nhân AIDS. Nghiên cứu này kỳ vọng đưa ra kết quả về mô hình mô tả các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị ARV, và sẽ đưa ra những khuyến nghị cho việc mở rộng triển khai các chương trình điều trị ARV tại Việt Nam. Ngoài ra, nghiên cứu cũng sẽ cung cấp nguồn thông tin quý giá về các yếu tố văn hoá-xã hội và dịch vụ y tế liên quan đến chăm sóc và điều trị HIV/AIDS cho các nghiên cứu sẽ được tiến hành trong tuơng lai.


3. Đánh giá “Mô hình chăm sóc và hỗ trợ cho người nhiễm HIV  tại quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng năm 2006-2008", được hỗ trợ bởi Hội Y tế công cộng Việt Nam do Atlantic Philanthropies tài trợ

Chăm sóc, hỗ trợ và điều trị cho những người có H đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc giúp họ tích cực đối phó với căn bệnh HIV/AIDS, tăng cường chất lượng cuộc sống của họ, và ngăn ngừa tình trạng lây truyền bệnh cho những người khác trong cộng đồng. Mô hình tư vấn, chăm sóc và hỗ trợ cho những người có H đã được Hội Y tế công cộng Đà Nẵng xây dựng và triển khai tại quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng từ tháng 6/2006. Các nghiên cứu đánh giá trước và sau hai năm triển khai mô hình này đã được tiến hành tại hai quận Hải Châu (địa bàn can thiệp) và Thanh Khê (địa bàn không can thiệp). Các nghiên cứu này nhằm đánh giá kết quả, tính duy trì và bài học rút ra từ mô hình can thiệp. Nghiên cứu đánh giá trước và sau can thiệp đều sử dụng kết hợp hai phương pháp nghiên cứu định tính và điều tra tại cộng đồng với cùng một bộ công cụ điều tra. Kết quả của các nghiên cứu đánh giá này cho thấy, sau hai năm hoạt động, mô hình “Tư vấn, chăm sóc và hỗ trợ người có H tại quận Hải Châu” đã có những thành công trong việc tăng cường nhận thức, mối quan tâm và tham gia của các ban ngành, đoàn thể, và xã hội với việc chăm sóc và hỗ trợ cho người có H, từ đó giảm bớt được sự kỳ thị của cộng đồng và tự kỳ thị của những người có H. Mô hình đã tạo ra câu lạc bộ “Nhân ái” là một môi trường thân thiện hỗ trợ, giúp cho những người có H nhận được các chăm sóc tinh thần, hỗ trợ về vật chất và chăm sóc sức khỏe. Mô hình cũng đóng vai trò làm cầu gắn kết họ với các nguồn hỗ trợ khác trên địa bàn, đáp ứng được một phần mong muốn và nhu cầu của người có H trên địa bàn. Tuy nhiên, một số hạn chế trong thiết kế và triển khai mô hình can thiệp và nghiên cứu đánh giá trước-sau đã làm cho việc so sánh kết quả giữa địa bàn can thiệp và không can thiệp không khả thi. Kết quả và hạn chế của mô hình đã được bàn luận chi tiết trong báo cáo toàn văn và rút ra bài học kinh nghiệm để mở rộng mô hình can thiệp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.


4. Nghiên cứu đo lường mức độ phơi nhiễm thụ động với thuốc lá ở phụ nữ và trẻ em, năm 2005

Nhằm xây dựng được một bộ số liệu đầy đủ và chính xác về việc phơi nhiễm thụ động với khói thuốc ở phụ nữ và trẻ em tại hộ gia đình trên toàn thế giới, trong năm 2005-2006, Trường Đại học Jonhs Hopkins đã tiến hành nghiên cứu đo lường mức độ phơi nhiễm thụ động với thuốc lá tại nhà ở phụ nữ và trẻ em và các yếu tố ảnh hưởng đến việc phơi nhiễm này tại 31 quốc gia trên thế giới. Các kết quả của nghiên cứu này sẽ rất có ý nghĩa trong việc xây dựng các chính sách cũng như các chiến lược can thiệp nhằm bảo vệ phụ nữ và trẻ em khỏi ảnh hưởng của thuốc lá thụ động tại các quốc gia nghiên cứu cũng như trên thế giới. Đây là một nghiên cứu cắt ngang đo lường nồng độ nicotin trong không khí và hàm lượng nicotin trong mẫu tóc phụ nữ và trẻ em. Đồng thời, thông tin về hộ gia đình và tình trạng hút thuốc cũng được thu thập dựa trên bộ câu hỏi thiết kế sẵn thống nhất cho tất cả các nước tham gia nghiên cứu. Việt Nam là một trong những quốc gia được lựa chọn để tiến hành nghiên cứu. Quá trình thu thập thông tin được thực hiện bởi các nghiên cứu viên thuộc Trường Đại học Y tế Công cộng và Hội Y tế công công Việt Nam trong thời gian từ tháng 8 đến tháng 11 năm 2005. Cỡ mẫu nghiên cứu là 40 hộ gia đình có trẻ em từ 3 tháng đến 10 tuổi được lựa chọn một cách ngẫu nhiên tại hai phường Kỳ Bá và Vũ Phúc ở thành phố Thái Bình. Trong 40 hộ gia đình này 32 hộ có hút thuốc và 8 không hút thuốc. Quá trình phỏng vấn và thu thập mẫu tóc, mẫu không khí được thực hiện theo một quy trình nghiêm ngặt nhằm tránh các sai số. Sau quá trình nhập, mã hóa và làm sạch số liệu bằng phần mềm được JHU cung cấp, các thông tin và mẫu được gửi sang phòng thí nghiệm tại JHU để phân tích. Kết quả nghiên cứu cho thấy trong số 33/41 hộ gia đình có người hút thuốc, có 7 hộ có từ 2 người hút thuốc trở lên và tất cả người hút thuốc đều là nam giới. Chỉ có 12% trong số những người hút thuốc cho biết họ không bao giờ hút thuốc gần con em mình và hầu hết đều hút thuốc trong nhà (32/33). Nồng độ Nicotin trong mẫu tóc của phụ nữ và trẻ em tại các hộ gia đình có hút thuốc cao hơn tại các hộ gia đình không hút thuốc, rõ hơn ở những gia đình có hơn 1 người hút thuốc và ở trẻ em. Tuy nhiên, không thấy rõ sự khác biệt giữa nồng độ nicontin trong không khí giữa hộ gia đình hút thuốc và không hút thuốc. Điều này có thể giải thích do thông khí trong nhà tại khu vực nghiên cứu khá tốt, nhà có nhiều cửa sổ, các cửa thường mở và không có gia đình nào sử dụng máy điều hòa nhiệt độ.


5. Nghiên cứu về “Hành vi tìm kiếm các hình thức khám chữa bệnh viêm đường sinh dục của phụ nữ tại huyện Chí Linh, năm2001”, Đề tài thạc sĩ YTCC của Đỗ Mai Hoa

ĐẶT VẤN ĐỀ: Một cuộc điều tra năm 2000 do trường Đại học Y tế Công Cộng tiến hành với 378 phụ nữ tại huyện Chí Linh, Hải Dương cho thấy tỉ lệ mắc bệnh viêm đường sinh dục (VĐSD) dựa trên chẩn đoán lâm sàng là 42,6%. Mục tiêu của nghiên cứu là mô tả hành vi khám chữa bệnh (KCB) của các phụ nữ mắc VĐSD tại Chí Linh và xác định một số yếu tố liên quan tới việc mắc bệnh VĐSD và hành vi KCB của họ để đề xuất khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng điều trị và phòng bệnh VĐSD.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: Sử dụng phương pháp nghiên cứu nhân học và phân tích sâu các kết quả liên quan thu được từ cuộc điều tra năm 2000. Nghiên cứu nhân học đã được sử dụng với nhiều loại đối tượng như phụ nữ, nam giới và các cán bộ y tế tuyến huyện và xã của Chí Linh. Nhiều kĩ thuật nghiên cứu nhân học như liệt kê tự do, phân loại, phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm đã được sử dụng với nhóm đối tượng trọng tâm là 22 phụ nữ đã từng lấy chồng, tuổi từ 18-49.

KẾT QUẢ

- 19% (72) đối tượng nghiên cứu cho rằng họ có các dấu hiệu của VĐSD. Trong số này, chỉ có 36% đi KCB tại cơ sở y tế nhà nước như trạm y tế hay TTYT hoặc tại các nhà thuốc tư nhân, 64% còn lại tự điều trị hoặc không đi khám chữa bệnh ở đâu cả.

- Kết quả này phù hợp với kết quả nghiên cứu nhân học là phụ nữ không điều trị bệnh sớm do không nhận biết được dấu hiệu bệnh hoặc cho rằng các dấu hiệu như khí hư âm đạo, đau hạ vị là những dấu hiệu bình thường tự nhiên.

- Các yếu tố cản trở dẫn đến tình trạng ít điều trị/điều trị muộn bệnh VĐSD của phụ nữ tại Chí Linh gồm có chất lượng dịch vụ y tế chưa tốt, giáo dục sức khỏe không phù hợp, hạn chế về thời gian, nghèo túng, bất bình đẳng giới.

- Một số yếu tố liên quan có ý nghĩa với VĐSD là hành vi không sử dụng băng vệ sinh trong thời kì kinh nguyệt (OR=1,7) và hành vi thường xuyên làm việc ngâm mình trong nước (OR=8).

KHUYẾN NGHỊ

- Cải thiện các chương trình giáo dục sức khoẻ nhằm thay đổi những quan niệm và thói quen không đúng, giúp tạo ra nhu cầu được khám chữa bệnh đúng, đầy đủ và kịp thời. Ngoài phụ nữ, nam giới (những người chồng) cũng cần được coi là đối tượng cần được truyền thông. Tư vấn đúng và lồng ghép với tư vấn các bệnh khác.

- Cần xem xét lại việc thực hiện các đợt chiến dịch KHHGĐ tránh tạo cho người dân có thói quen chờ đợi vào các đợt chiến dịch dẫn đến việc điều trị bệnh muộn.

- Tăng cường năng lực cho cán bộ y tế: Đào tạo lại một cách hiệu quả, chú trọng đến đào tạo kĩ năng, có gắn với thực hành. Tăng cường trao đổi và giám sát hỗ trợ chuyên môn giữa các cán bộ y tế tuyến huyện và xã.


6. Nghiên cứu về "Sự hài lòng của khách hàng đối với chât lượng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản: lồng ghép cách tiếp cận trong lĩnh vực kinh doanh vào xây dựng mô hình và đánh giá"

Các nhà quản lý trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ đang ngày càng quan tâm đến sự chấp nhận và hài lòng của khách hàng đối với chất lượng các dịch vụ khám chữa bệnh. Cùng với những tiến bộ đáng kể, các bối cảnh mới về nhận thức, mô hình và đánh giá các dịch vụ có thể hỗ trợ các nhà quản lý chăm sóc sức khoẻ trong việc cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ chất lượng cao. Với mục đích đó, nghiên cứu này đưa ra các học thuyết trong lĩnh vực kinh doanh và sức khoẻ nhằm xây dựng một mô hình lồng ghép mô tả những nét nổi bật của các tiền đề và kết quả về sự hài lòng khách hàng với dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản. Bên cạnh việc xây dựng một mô hình mới, nghiên cứu này góp phần kiểm chứng độ phù hợp của các giả thuyết từ phương Tây trong một quốc gia Châu Á đang phát triển. Ứng dụng cho khu đô thị, những người đến với các phòng khám sản ở Hà Nội, các kết quả thử nghiệm cho rằng các tiền đề giả định như kỳ vọng trước khi khám, hoạt động thấy được ở phòng khám và mức độ đáp ứng vượt quá kỳ vọng tác động tới sự hài lòng của khách hàng.Tuy nhiên, tầm quan trọng tương đối của các chỉ số dự báo này rất khác nhau tuỳ thuộc vào mức độ trải nghiệm của khách hàng đối với các dịch vụ liên quan. Cuối cùng, mức độ hài lòng nhiều hay ít của khách hàng có liên hệ mật thiết với ý định đến khám trong tương lai. Nghiên cứu này thể hiện giá trị của: (1) sự phối hợp chặt chẽ cách nhìn lý thuyết của các ban ngành với các quy trình mẫu là cơ sở của sự hài lòng về dịch vụ y tế và (2) kiểm chứng thực tế những mô hình này trước khi tiến hành. Nghiên cứu này cũng được thiết kế nhằm cung cấp cho các nhà quản lý dịch vụ chăm sóc sức khoẻ những phương pháp đánh giá các quy trình phức tạp nhằm thoả mãn nhu cầu của khách hàng.


7. Nghiên cứu về “Khẩu phần ăn và các yếu tố ảnh hưởng tới tình trạng dinh dưỡng ở phụ nữ có thai tại vùng nông thôn Đông Bắc Thái Lan” (Do Trường Đại học Queensland, Úc tài trợ). Đề tài thạc sĩ YTCC của Lê Bảo Châu.

Với mục địch tìm hiểu mô hình dinh dưỡng của phụ nữ có thai vùng nông thôn và sự ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế, văn hóa, xã hội, lối sống và gánh nặng lao động tới vấn đề dinh dưỡng của nhóm đối tượng này, một nghiên cứu phối hợp cả phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng đã được tiến hành tại vùng Đông Bắc, Thái Lan từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2005. Nhóm nghiên cứu đã tiến hành phỏng vấn 119 phụ nữ có thai tại huyện NamPong, tỉnh Khonkean theo bộ câu hỏi cấu trúc và bảng hỏi tần suất tiêu thụ thức ăn. 7 cuộc phỏng vấn sâu và 2 cuộc thảo luận nhóm cũng được tiến hành đối với các phụ nữ có thai và nhân viê chăm sóc thai sản tại địa phương nhằm thu thập các thông tin sâu hơn về các vấn đề quan tâm. Kết quả nghiên cứu cho thấy khẩu phần thức ăn của nhóm đối tượng nghiên cứu tại khu vực này tương đối cân đối với nguồn dinh dưỡng chủ yếu là từ gạo. Kết quả phân tích cũng cho thấy có sự chuyển dịch giữa mô hình dình dinh dưỡng truyền thống sang hiện đại với sự xuất hiện nhiều hơn của các loại thức ăn nhanh, đồ hộp hoặc chế biến sẵn trong bữa ăn hàng ngày của các gia đình. Nghiên cứu cũng gợi ý mối liên quan giữa các yếu tố như mức thu nhập của gia đình, trình độ học vấn của người phụ nữ, loại hình gia đình (hai hoặc ba thế hệ), kiến thức về dinh dưỡng và gánh nặng lao động tới mô hình dinh dưỡng của phụ nữ có thai trong nghiên cứu.  Bên cạnh đó, ảnh hưởng gia đình và những thói quen truyền thống vẫn có ảnh hưởng lớn tới hành vi ăn uống của người phụ nữ trong giai đoạn đặc biệt này. Nhân viên chăm sóc sức khỏe sinh sản tại địa phương đóng vai trò rất quan trọng trong việc tăng cường kiến thức dinh dưỡng của phụ nữ và gia đình họ. Các kết quả nghiên cứu đã góp phần quan trọng cho việc xây dựng chương trình nâng cao sức khỏe và kiến thức dinh dưỡng cho người dân vùng nông thôn Thái lan nói chung và cho những phụ nữ mang thai nói riêng, góp phần cải thiện tình trạng sức khỏe cho trẻ từ trước khi sinh.

 

 II. CÁC NGHIÊN CỨU CÓ SỰ THAM GIA CỦA CÁN BỘ BỘ MÔN

* 2009: “Đánh giá thuần tập về điều trị thuốc kháng virut (ARV) và các chỉ số cảnh báo sớm kháng thuốc của bệnh nhân AIDS trên toàn quốc”, nghiên cứu được thực hiện bởi Cục phòng chống HIV/AIDS, tổ chức Y tế thế giới (WHO) và Trường đại học Y tế công cộng

* 2008: “Đánh giá triển khai chương trình cung cấp dịch vụ điều trị kháng virus HIV (ARV) tại 5 phòng khám ngoại trú thuộc dự án LIFE-GAP tại Việt Nam. Nghiên cứu được thực hiện bởi CDC-US, dự án LIFE-GAP, và nhóm nghiên cứu Trường đại học Y tế công cộng

* 2007: “Đánh giá thuần tập về điều trị thuốc kháng virut (ARV) và các chỉ số cảnh báo sớm kháng thuốc của bệnh nhân AIDS tại Việt Nam”, nghiên cứu được thực hiện bởi Cục phòng chống HIV/AIDS, tổ chức Y tế thế giới (WHO) và Trường đại học Y tế công cộng

* 2005: “Giảm sự chấp nhận của xã hội với thuốc lá tại Việt Nam”, nghiên cứu can thiệp hợp tác giữa PATH Canada và Hội Y tế công cộng Việt Nam, do Atlantic Philanthropies tài trợ.

* 2003-2004: “Sử dụng 3 phương pháp nghiên cứu sức khoẻ thanh thiếu niên tại huyện Gia Lâm, Hà Nội”, do Trường đại học Y tế công cộng thực hiện với tài trợ của Ford Foundation.

* 2003: “Đánh giá về khả năng vận động của các dự án SKSS tại 8 tỉnh" do Pathfinder International, Ipas and EngenderHealth tài trợ, được thực hiên bởi Trường đại học Y tế công cộng do Pathfinder International tài trợ.

* 1999-2000: “Tình hình sử dụng các biện pháp kế hoạch hoá gia đình của các phụ nữ sau nạo hút thai và các yếu tố liên quan tại thành phố Đà Nẵng”. do Sở Y tế Đà Nẵng thực hiện với sự tài trợ của UNFPA.

* 1999: “Đánh giá nhu cầu và nguồn cung cấp các dịch vụ tư vấn HIV/AIDS tại Lạng Sơn và Hải Phòng”. do Trường đại học Y tế công cộng thực hiện với tài trợ của  Uỷ ban quốc gia phòng chống AIDS.