English Login
 

Các nghiên cứu khoa học của bộ môn

I. Các nghiên cứu do bộ môn chủ trì


1. Đánh giá thực trạng cung cấp và sử dụng dịch vụ chăm sóc và điều trị HIV/AIDS năm 2013

Dự án phòng chống HIV/AIDS khu vực tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng là một dự án kéo dài 5 năm theo nguồn vốn vay của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) nhằm hỗ trợ thực hiện Chiến lược Quốc gia phòng chống HIV/AIDS của Chính phủ Việt Nam. Đánh giá về thực trạng cung cấp và sử dụng dịch vụ chăm sóc và điều trị HIV/AIDS năm 2013 tại 15 tỉnh dự án được tiến hành vào giai đoạn đầu của dự án nhằm đưa ra bức tranh tổng thể về hiện trạng dịch vụ  phòng chống HIV/AIDS tại các tỉnh dự án từ tuyến tỉnh, huyện đến xã/phường, phân tích nhu cầu về tiếp cận và sử dụng các dịch này trong bối cảnh tình hình dịch và điều kiện tại địa phương, là cơ sở quan trọng để đề xuất can thiệp phù hợp trong mỗi hợp phần của dự án tổng thể. Các thông tin thu được từ đánh giá này cũng sẽ là cơ sở giúp các tỉnh sử dụng để xây dựng kế hoạch chiến lược cho Chương trình phòng chống HIV/AIDS tỉnh trong những năm tiếp theo.   Hiện nay, đánh giá đã thực hiện xong phần xây dựng đề cương. Phương pháp đánh giá kết hợp, số liệu thứ cấp sẽ được thu thập và phân tích. Dự kiến sẽ triển khai nghiên cứu tại thực địa và hoàn tất trong năm 2013.

 

2. Đánh giá dự án “Can thiệp phòng chống HIV/AIDS khu vực biên giới tại Hà Giang” năm 2013

Đánh giá này được triển khai trong khuôn khổ “Dự án Phòng chống HIV/AIDS khu vực Châu Á” (HAARP) với hỗ trợ của Chương trình viện trợ của Chính phủ Úc (AusAID) nhằm hai mục tiêu chính: (1) Xem xét hiệu quả việc triển khai dự án; (2) Đánh giá tính bền vững của dự án. Đánh giá sử dụng phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa hồi cứu các thông tin thứ cấp và thực hiện nghiên cứu định tính thông qua quan sát, phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm. Kết quả đánh giá cho thấy, mặc dù, dự án đã mang lại khá nhiều kết quả tích cực về thay đổi hành vi nguy cơ trong nhóm nghiện chích ma túy (NCMT) tại Hà Giang, nhưng Dự án chưa đạt được mục tiêu về hợp tác để triển khai các hoạt động PC HIV/AIDS xuyên biên giới do chưa đánh giá kỹ tình hình và khả năng thực thi triển khai các hoạt động trước khi thực hiện dự án. Việc duy trì các hoạt động dự án cũng gặp nhiều khó khăn do ngân sách của địa phương và Trung ương còn hạn chế. Bên cạnh đó, Dự án không có các hoạt động chuyển giao, chuẩn bị cho việc rút dần ngân sách dự án, khuyến khích các cán bộ địa phương tìm cách đáp ứng được những thay đổi, điều phối và huy động thêm nguồn lực từ các nguồn khác nhau. Dựa trên kết quả thu được, đánh giá này đã rút ra nhiều bài học kinh nghiệm và đề xuất các khuyến nghị cho Chương trình HIV/AIDS tại Hà Giang và các hoạt động phòng chống HIV/AIDS qua biên giới tại Việt Nam trong tương lai.

 

3. Đánh giá “Dự án Trao quyền cho các tổ chức dân sự xã hội để thực hiện thành công các sáng kiến giảm hại” năm 2013

Trong thời gian từ tháng 11 năm 2012 đến tháng 4 năm 2013, bộ môn Quản lý hệ thống y tế, trường Đại học Y tế công cộng, đã thực hiện nghiên cứu đánh giá dự án Trao quyền cho các tổ chức xã hội dân sự để thực hiện thành công các sáng kiến giảm hại tại 3 tỉnh miền núi phía Bắc là Hòa Bình, Tuyên Quang, và Bắc Kạn. Đánh giá có hai nội dung chính là đánh giá tiến độ và phương thức triển khai dự án Trao quyền, và đánh giá tính phù hợp và khả năng duy trì, tính bền vững. Đối tượng đích của nghiên cứu là những người sử dụng ma túy hoặc đã từng sử dụng ma túy, nhưng người chịu ảnh hưởng của HIV/AIDS. Sử dụng phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa định tính và hồi cứu số liệu thứ cấp, nghiên cứu đã thực hiện phỏng vấn sâu với đối tượng đích và các ban ngành tại địa phương. Thành công của dự án Trao quyền  được thể hiện qua việc thành lập các nhóm tự lực với sự tham gia tích cực của đối tượng đích. Các nhóm tự lực đã giúp nâng cao năng lực cho những người sau một thời gian dài sử dụng ma túy, tạo cơ hội cho họ được chia sẻ tinh thần, tìm kiếm việc làm, và được tiếp cận với các kiến thức về giảm tác hại. Đánh giá cũng đưa ra những khuyến nghị để tăng cường tính bền vững các hoạt động mà dự án đã thực hiện được như tăng cường sự kết nối với trung tâm phòng, chống HIV/AIDS tỉnh để nhận được sự hỗ trợ nhằm lấp khoảng trống trong giảm tác hại, chăm sóc y tế. Mô hình các nhóm tự lực là mô hình can thiệp cộng đồng hiệu quả trong dự án Trao quyền. Nhóm tự lực khi được liên kết sẽ hình thành được mạng lưới các tổ chức dân sự xã hội góp phần thực hiện hoạt động giảm tác hại tại cộng đồng và phòng chống HIV/AIDS.

 

4. Nghiên cứu “Ứng dụng công nghệ thông tin nhằm nâng cao tuân thủ điều trị ARV cho bệnh nhân HIV ở Việt Nam” hợp tác với Trường Y tế công cộng, ĐH Texas (tài trợ bởi quỹ PEPFAR)

Study “Technology-based Intervention to Improve Treatment Adherence for People with HIV in Vietnam” in collaboration with the School of Public Health, University of Texas (UT), supported by the Fogarty International Center of the National Institutes of Health under Award Number D43TW007669, funded by PEPFAR

Nghiên cứu này nhằm nâng cao khả năng tuân thủ điều trị ARV cho người nhiễm HIV tại Việt Nam. Tuân thủ đúng phác đồ có vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả điều trị và cải thiện sức khỏe của người nhiễm HIV, cũng như tiết kiệm các chi phí và nguồn lực. Nghiên cứu cho thấy còn nhiều người nhiễm HIV ở Việt Nam chưa tuân thủ đúng phác đồ điều trị. Vì vậy cần phải phát triển các giải pháp thích hợp nhằm hỗ trợ người nhiễm HIV tuân thủ tốt hơn.

Hiện nay, mức độ sử dụng các thiết bị điện thoại di động thế hệ mới (smartphone) ngày càng tăng lên do sự phát triển của kinh tế nói chung và công nghệ thông tin nói riêng. Với những ưu điểm như tiện dụng, dễ phát triển ứng dụng, và giá thành không quá đắt, smartphone là một công cụ tiềm năng để cung cấp thông tin thường xuyên và liên tục đến người dùng, trong đó bao gồm khả năng hỗ trợ tuân thủ điều trị HIV.

Trong nghiên cứu này, bệnh nhân tham gia là người nhiễm HIV được cung cấp thiết bị smartphone với một ứng dụng được phát triển nhằm hỗ trợ nâng cao tuân thủ điều trị HIV, bao gồm các chức năng như nhắc giờ dùng thuốc và các thông tin hữu ích liên quan đến chăm sóc và điều trị HIV. Bệnh nhân tham gia nghiên cứu được chọn từ những người nhiễm HIV tại phòng khám ngoại trú huyện Đông Anh, Hà Nội và đáp ứng được tiêu chuẩn là đã được điều trị bằng thuốc ARV ít nhất 3 tháng trước thời điểm bắt đầu thu dung vào nghiên cứu (tháng 8/2012). Số lượng bệnh nhân là 120 người (20 bệnh nhân tham gia giai đoạn thử nghiệm phần mềm ứng dụng và 100 bệnh nhân tham gia giai đoạn can thiệp). Các bệnh nhân đủ tiêu chuẩn được chọn và phân bổ ngẫu nhiên vào nhóm can thiệp và nhóm chứng, và đảm bảo đủ số lượng. Các bệnh nhân tham gia nghiên cứu được giới thiệu về nghiên cứu và được cung cấp Bản thông báo về nghiên cứu, trong đó gồm có giấy chấp thuận tham gia nghiên cứu có chữ ký của bệnh nhân. Với những bệnh nhân từ chối tham gia, nghiên cứu viên chọn bổ sung bệnh nhân khác từ danh sách các bệnh nhân đủ tiêu chuẩn.

Bệnh nhân tham gia nghiên cứu được theo dõi và khảo sát trong 6 tháng và trả lời 3 bộ phiếu tự điền, gồm có phiếu thu thập số liệu nền, phiếu thu thập số liệu tại thời điểm 3 tháng, và phiếu thu thập số liệu tại thời điểm 6 tháng. Địa điểm trả lời phiếu tại phòng khám ngoại trú huyện Đông Anh, Hà Nội. Tại thời điểm bắt đầu nghiên cứu và 6 tháng, các bệnh nhân được lấy mẫu máu và xét nghiệm tải lượng virus (viral load) và đếm số lượng tế bào CD4. Kết quả xét nghiệm được cung cấp cho bệnh nhân trong lần thăm khám vào tháng kế tiếp.

Nhóm can thiệp được cung cấp một điện thoại smartphone với ứng dụng hỗ trợ tuân thủ điều trị và được yêu cầu sử dụng trong 6 tháng, đồng thời trả lời bộ phiếu đánh giá tiện ích sử dụng của ứng dụng này.

Để đánh giá hiệu quả tăng cường tuân thủ điều trị ARV, nghiên cứu sử dụng bộ câu hỏi đánh giá hành vi và kết quả lâm sàng thể hiện qua xét nghiệm tải lượng virus của bệnh nhân. Nghiên cứu đưa ra so sánh về mức độ tuân thủ điều trị cũng như những thay đổi trong hành vi nguy cơ của đối tượng nghiên cứu, giữa nhóm can thiệp và nhóm chứng, so sánh trước và sau khi tiến hành can thiệp. Các thông ti này cũng sẽ được đối chiếu với mức độ tải lượng virus trong máu của bệnh nhân, một chỉ số tin cậy thể hiện hiệu quả điều trị ARV và làm ức chế sự phát triển của virus.

Để đánh giá tính khả dụng của phần mềm trên điện thoại thông minh, nghiên cứu ghi chép lại tỷ lệ sử dụng điện thoại trong nhóm can thiệp, theo dõi thông tin từ phần mềm trong việc bệnh nhân sử dụng chức năng nhắc nhở uống thuốc, phỏng vấn các bệnh nhân bằng bộ câu hỏi đánh giá tiện ích sử dụng của ứng dụng này và thảo luận nhóm với các bệnh nhân về việc sử dụng phần mềm.

 

5. Nghiên cứu về “Mối liên kết và phối hợp giữa liệu pháp MMT với điều trị ARV tại Hà Nội và Cần Thơ” hỗ trợ bởi Tổ chức Y tế Thế giới

Study on “Evaluation on Linkage and Synergy among methadone maintenance therapy (MMT) and antiretroviral therapy (ART)” in Hanoi and Can Tho supported by WHO

Để tăng cường hiệu quả của công tác điều trị ARV cũng như điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone (MMT), hướng tới mô hình Điều trị 2.0 theo khởi xướng của Tổ chức Y tế Thế giới, Bộ môn đã tiến hành nghiên cứu về “Mối liên kết và phối hợp giữa liệu pháp MMT với điều trị ARV tại Hà Nội và Cần Thơ”.

Mục tiêu nghiên cứu nhằm tìm hiểu liệu điều trị Methadone có giúp cho nam giới nghiện chích ma túy (NCMT) nhiễm HIV bắt đầu điều trị ARV sớm hơn và duy trì điều trị lâu hơn hay không. Chúng tôi hồi cứu số liệu từ bệnh án của tất cả bệnh nhân nhiễm HIV đăng ký chăm sóc hoặc bắt đầu điều trị ARV tại 06 PKNT ở Hà Nội và Cần Thơ trong khoảng thời gian từ 01/06/2010 – 31/12/2012. Bệnh nhân sau đó được phân chia thành các nhóm: nam NCMT có điều trị MMT; nam không NCMT không điều trị MMT, nam không điều trị MMT và phụ nữ. Chúng tôi so sánh lượng CD4 của họ khi đăng ký chăm sóc và lúc khởi trị ARV, sử dụng mô hình Cox và phân tích sống còn để đánh giá mức độ duy trì điều trị giữa các nhóm. Kết quả nghiên cứu cho thấy trung bình CD4 (tế bào/mm3) lúc bắt đầu điều trị ARV của bệnh nhân đang điều trị Methadone (191) cao hơn 1,5 lần so với nhóm không điều trị Methadone (125) (p=0,034; [95% CI: 1,1-1,9]). Tỷ suất ngừng duy trì điều trị ở nhóm không điều trị Methadone là 0,26 người-năm trong khi nhóm có điều trị Methadone là 0,06 người-năm (LRχ2 <0,05). Kết quả này cho thấy điều trị Methadone giúp cho nam giới NCMT nhiễm HIV được bắt đầu điều trị ARV sớm hơn khi CD4 còn chưa xuống thấp và duy trì điều trị ARV lâu hơn. Vì thế, cần tiếp tục duy trì và mở rộng các cơ sở điều trị Methadone cho người NCMT tại Việt Nam, đặc biệt là mô hình lồng ghép chương trình điều trị ARV và Methadone để làm tăng kết nối và tác động qua lại giữa hai dịch vụ này.

 

6.  Đánh giá kết thúc dự án “cung cấp dịch vụ VCT, giảm hại và giáo dục đồng đẳng cho thanh niên” thuộc dự án phòng chống HIV/AIDS cho thanh niên do ADB tài trợ. Thời gian thực hiện: tháng 7-9/2011

End-project Evaluation: Project on Comprehensive VCT, Harm Reduction Services and Peer Education Program for Youth at High Risk of HIV/AIDS supported by ADB

Sau 4 năm triển khai, nghiên cứu đánh giá kết thúc hợp phần dự án cung cấp dịch vụ Tư vấn và xét nghiệm HIV tự nguyện (TVXNTN) lồng ghép, kết hợp dịch vụ giảm hại được thực hiện nhằm đánh giá các kết quả đạt được của dự án và tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động của mô hình TVXNTN mà dự án cung cấp tại Hà nội, Bắc Ninh, Phú Thọ và Quảng Ninh.  Kết quả cho thấy hợp phần đã được triển khai thành công, đạt được các yêu cầu đầu ra và có khả năng duy trì sau khi dự án kết thúc. Hạn chế lớn nhất của dự án là thiếu sự phối hợp giữa Ban QLDA địa phương, phòng TVXNTN với Trung tâm PC HIV/AIDS tỉnh nên hoạt động TVXNTN của dự án vẫn mang tính đơn lẻ, chưa gắn kết với hoạt động PC HIV/AIDS chung của địa phương. Việc thực hiện dịch vụ TVXNTN lưu động giúp tăng cường tiếp cận với khách hàng và rất có ý nghĩa trong sàng lọc HIV tại cộng đồng tuy nhiên cần có các hướng dẫn cụ thể về quy trình thực hiện để phù hợp với nhu cầu tư vấn và xét nghiệm của các đối tượng khách hàng khác nhau và đảm bảo chất lượng dịch vụ.

 

7. Nghiên cứu tình hình sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh của hộ gia đình tại Chí Linh, Hải Dương (hỗ trợ bởi Quỹ China Medical Board và Chililab, Trường ĐHYTCC) từ tháng 6/2011-tháng 9/2012

Tóm tắt: Nghiên cứu được thực hiện để bước đầu đưa ra bức tranh toàn cảnh của việc sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh (DVKCB) trong phạm vi các xã, phường thuộc cơ sở thực địa CHILILAB, Trường Đại học Y tế công cộng (thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương). Đây là nghiên cứu mô tả cắt ngang sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp theo bộ câu hỏi định lượng để thu thập thông tin. Tổng số 1.370 hộ gia đình (HGĐ) đã được tiếp cận và phỏng vấn và kết quả cho thấy, khi bị ốm/bệnh chủ yếu người dân tự mua thuốc về điều trị (54%), tiếp đến là đi KCB ngoại trú (34,8%). Bệnh viện thị xã là lựa chọn phổ biến nhất của người dân khi đi KCB nội trú/ngoại trú với ưu điểm đi lại thuận tiện và được thanh toán BHYT. Mặc dù tỷ lệ lượt người sử dụng thẻ BHYT khi đi KCB ngoại trú và nội trú trên địa bàn nghiên cứu chỉ đạt 41% và 62% nhưng BHYT là một trong những yếu tố quyết định đối với việc sử dụng DVKCB. Những người có BHYT khám chữa bệnh ngoại trú và nội trú nhiều hơn và ít tự mua thuốc về điều trị hơn so với nhóm không có thẻ BHYT. Khu vực sinh sống, trình độ học vấn và tuổi cũng có liên quan đến việc lựa chọn dịch vụ và cơ sở KCB (p<0.05). Kết quả nghiên cứu cho thấy việc tăng cường chất lượng dịch vụ KCB ở y tế cơ sở vẫn là ưu tiên hàng đầu để thúc đẩy người dân sử dụng DVKCB phù hợp khi bị ốm/bệnh thay cho việc tự mua thuốc điều trị, phát huy hiệu quả và mở rộng độ bao phủ của BHYT, giảm tình trạng vượt tuyến và chi phí KCB không cần thiết.

 

8. Nghiên cứu “Đánh giá nhanh về tình hình ma túy, mại dâm và các hành vi nguy cơ nhiễm HIV ở Hải Hương và Thanh Hóa” từ tháng 3/2009

Trường đại học Y tế công cộng phối hợp với tổ chức y tế thế giới (WHO) và trung tâm phòng chống HIV/AIDS Hải Dương và Thanh Hóa tiến hành nghiên cứu Đánh giá nhanh về tình hình nghiện chích ma túy và mại dâm tại 2 địa bàn của tỉnh Hải Dương (thành phố Hải Dương và huyện Chí Linh) và 3 địa bàn của tỉnh Thanh Hóa (thành phố Thanh Hóa, thị xã Sầm Sơn và thị xã Bỉm Sơn). Đánh giá sẽ kết hợp cả nghiên cứu định lượng (phỏng vấn có cấu trúc với những người sử dụng ma túy và hành nghề mại dâm) và nghiên cứu định lượng (phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm với hai nhóm trên và đại diện của cộng đồng, các tổ chức, ban ngành đoàn thể có liên quan). Bên cạnh đó, nhóm đánh giá sẽ tiến hành vẽ bản đồ các điểm nóng ma túy và mại dâm tại các địa bàn này. Các nhóm đồng đẳng viên tại hai tỉnh sẽ được tập huấn để cùng tham gia thu thập số liệu nhằm giúp cho việc tiếp cận đúng mạng lưới của các đối tượng đích (người hành nghề mai dâm và sử dụng ma tuý). Đánh giá dự kiến đưa một bức tranh mô tả sát thực tình hình sử dụng ma túy, hành nghề mại dâm và đưa ra đề xuất xây dựng các can thiệp thích hợp nhằm giảm tác hại của các hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS trong cộng đồng, đặc biệt là trong hai nhóm sử dụng ma túy và hành nghề mại dâm tại hai tỉnh này. 

9. Nghiên cứu “Tuân thủ điều trị thuốc kháng virut (ARV) của bệnh nhân AIDS tại Hà Nội và Hải Dương”, đề tài tiến sĩ của Đỗ Mai Hoa (2007-2010)

Do dịch HIV/AIDS hiện vẫn đang tiếp tục tăng nhanh tại Việt Nam, nên việc điều trị thuốc kháng vi-rút(ARV) cho các bệnh nhân AIDS đang được mở rộng và tăng cường tại nhiều tỉnh/thành trong cả nước. Số bệnh nhân AIDS được tiếp nhận điều trị ARV tăng từ 50 năm 2003 lên hơn 27.000 người năm 2008. Để chương trình điều trị thuốc ARV đạt được hiệu quả và giúp cho các bệnh nhân AIDS thực sự kéo dài được tuổi thọ và nâng cao chất lượng cuộc sống, đòi hỏi bệnh nhân phải tuân thủ điều trị hết sức chặt chẽ. Cho đến nay, hầu như chưa có nghiên cứu nào được thực hiện một cách hệ thống về tuân thủ điều trị ARV tại Việt Nam. Nghiên cứu này sẽ được tiến hành nhằm giảm bớt sự thiếu hụt trên thông qua việc kết hợp nhiều phương pháp như nghiên cứu định tính và điều tra cắt ngang kết hợp với việc thu thập số liệu từ các hồ sơ bệnh án tại 5 cơ sở điều trị ARV cho bệnh nhân AIDS tại Hà nội và Hải Dương. Nghiên cứu định tính sẽ được tiến hành trước để khám phá các yếu tố ảnh hưởng đến việc tuân thủ điều trị ARV thông qua các kĩ thuật thu thập thông tin (như phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm) với nhiều đối tượng khác nhau (bệnh nhân AIDS, người chăm sóc, đồng đẳng viên và cán bộ y tế).  Tiếp theo, với bộ công cụ được xây dựng kỹ lưỡng nhằm đảm bảo tính khoa học và phù hợp với đối tượng nghiên cứu và văn hoá của Việt Nam, cuộc điều tra sẽ được tiến hành với trên 600 bệnh nhân đang điều trị ART để đo lường mức độ tuân thủ điều trị ARV của các bệnh nhân AIDS, đồng thời sẽ xem xét mối liên quan của một số yếu tố cá nhân, gia đình, xã hội, chăm sóc y tế và việc tuân thủ điều trị của bệnh nhân AIDS. Nghiên cứu này kỳ vọng đưa ra kết quả về mô hình mô tả các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị ARV, và sẽ đưa ra những khuyến nghị cho việc mở rộng triển khai các chương trình điều trị ARV tại Việt Nam. Ngoài ra, nghiên cứu cũng sẽ cung cấp nguồn thông tin quý giá về các yếu tố văn hoá-xã hội và dịch vụ y tế liên quan đến chăm sóc và điều trị HIV/AIDS cho các nghiên cứu sẽ được tiến hành trong tuơng lai.


II.  Các nghiên cứu có sự tham gia của các bộ bộ môn

1.     2013-nay: Nghiên cứu can thiệp: Điều trị thuốc kháng virut (ARV) nhằm ngăn ngừa lây nhiễm HIV trong các cặp bạn tình dị nhiễm HIV tại Việt Nam (Antiretroviral therapy (ART) for prevention in HIV sero-discordant couples in Vietnam”: Hợp tác với Cục phòng chống HIV/AIDS, WHO, CDC, FHI.

2.     2013: Đánh giá mô hình điều trị 2.0 tại Điện Biên và Cần Thơ (Evaluation of Treatment 2.0 Pilot in Dien Bien and Can Tho): Hợp tác với Cục phòng chống HIV/AIDS, WHO, UNAIDS.

3.     2013: Đánh một thập kỷ hỗ trợ của DFID và Ngân hàng thế giới cho các chương trình phòng chống HIV/AIDS tại Việt Nam, từ 2003 đến 2012 “Evaluation of a decade of DFID and World Bank supported HIV and AIDS Programs in Vietnam from 2003-2012”: Hợp tác với Đại học tổng hợp New South Wale, Úc với hỗ trợ của DFID.

4.     2012: Đánh giá hiệu quả của việc đầu tư vào chương trình phòng, chống HIV/AIDS tại Việt Nam (Return on Investment in HIV Prevention in Vietnam): Hợp tác với Đại học tổng hợp New South Wale, Úc với hỗ trợ của World Bank.

5.     2009: “Đánh giá thuần tập về điều trị thuốc kháng virut (ARV) và các chỉ số cảnh báo sớm kháng thuốc của bệnh nhân AIDS trên toàn quốc”, nghiên cứu được thực hiện bởi Cục phòng chống HIV/AIDS, tổ chức Y tế thế giới (WHO) và Trường đại học Y tế công cộng.