Hệ thống giám sát Tai nạn thương tích tại Đà Nẵng
An Toàn Đà Nẵng (Safe DanangTM) là một dự án phòng chống tai nạn thương tích trẻ em dựa vào cộng đồng được triển khai tại thành phố Đà Nẵng. Bên cạnh các chương trình can thiệp tại nhà, trường học, cộng đồng, Hệ thống giám sát (ISS) được phát triển nhằm củng cố hệ thống giám sát y tế và tai nạn thương tích tại Đà Nẵng và đo lường tác động và hiệu quả của các chương trình can thiệp. Mục tiêu chính của hệ thống giám sát là:
(1). Mô tả gánh nặng và xu hướng của các trường hợp chấn thương tại Đà Nẵng;
(2). Theo dõi các yếu tố nguy cơ dẫn tới tai nạn thương tích;
(3). Theo dõi và giamsats hiệu quả của các hoạt động phòng chống chấn thương.
Phương pháp
Các vòng điều tra thu thập số liệu tại Đà Nẵng trong khoảng thời gian tiến hành dự án:
- Điều tra cơ bản: toàn bộ những hộ gia đình có trẻ dưới 18 tuổi tại thành phố Đà Nẵng năm 2006. Vòng điều tra này đã hoàn thành và đã có báo cáo. Vòng điều tra này với mục tiêu mô ta các mô hình chấn thương và đưa ra những gợi ý cho các hoạt động của dự án sau này.
- Điều tra cơ bản (giám sát vòng 0): Chọn ngẫu nhiên 12 trong tổng số 56 xã/phường và 10 xã/phường có chương trình can thiệp. Toàn bộ các hộ gia đình có trẻ dưới 12 tuổi được phỏng vấn về chấn thương mới mắc và tử vong (trong vòng 1 năm trở lại) và các yếu tố nguy cơ gây tai nạn thương tích trong nhà.
- 4 vòng điều tra tại tất cả 22 xã/phường với mục đích theo dõi những thay đổi của các yếu tố nguy cơ gây tai nạn thương tích trong hộ gia đình, tình hình chấn thương, tử vong và sự thay đổi về dân số. Một số hình ảnh của điều tra số liệu của điều tra viên
Số liệu được thu thập bằng cách sử dụng bộ phiếu câu hỏi và bộ phiếu trả lời (Trừ Điều tra cơ bản năm 2006), được phát triển tại Đà Nẵng mà đã sử dụng bộ công cụ trước đó trong các nghiên cứu tương tự tại Băng La Đét, Trung Quốc và Campuchia.
Bộ câu hỏi được phát triển và định dạng đơn giản bằng từ ngữ địa phương. Mỗi câu hỏi có mã định sẵn cùng với các hướng dẫn nhằm giúp cho điều tra viên đạt được hiệu quả công việc cao nhất khi đến thăm hộ gia đình.
Bộ phiếu trả lời được thiết kế để có thể quét được và ghi lại bằng công nghệ nhận diện ký tự thông mình kết hợp với nhập liệu bằng tay đối với các trường tên/địa chỉ có ký tự dài và có dấu tiếng Việt. Trung tâm tin học thống kê khu vực III (COSIS) chịu trách nhiệm nhập toàn bộ phiếu điều tra và chuyển sang bộ số liệu.
Hệ thống quản lý chất lượng phỏng vấn lại ngẫu nhiên 5% số phiếu điều tra thu thập được của điều tra viên để phát hiện ra lỗi sai sót. Đội kiểm tra chất lượng phiếu điều tra làm việc độc lập với điều tra viên và giám sát viên. Họ sẽ sử dụng bộ câu hỏi ngẫu nhiên để đảm bảo chất lượng thông tin thu thập một cách chính xác nhất.
Kết quả
Từ tháng 10/2008 tới tháng 2/2009, có tổng số 20.461 hộ gia đình tham gia phỏng vấn. Trong đó có 2.393 trường hợp TNTT không tử vong và 45 trường hợp TNTT tử vong.
1. Đặc điểm mẫu điều tra
- Dân số: 98.813 người
- Số trẻ em (0 – 17 tuổi): 39.428 người
- Tỷ lệ nam/nữ: 94,9/100
- Nhóm tuổi và giới của mẫu tương tự đối với dân số Đà Nẵng
2. Đặc điểm của TNTT tử vong
- Mô hình TNTT tử vong cho thấy tỷ lệ tử vong lớn nhất nằm ở lứa tuổi 1-4 và giảm dần ở các lứa tuổi lớn hơn.
- Hơn 2/3 số trường hợp tử vong ở trẻ em là do TNTT
- Tử vong có liên quan tới các nhóm tuổi
+ Đuối nước thường xảy ra ở lứa tuổi trẻ nhỏ
+ Tai nạn giao thông và các TNTT không chủ định chiếm số lượng lớn ở lứa tuổi vị thành niên và thanh niên.
+ Ngã thường xảy ra ở người cao tuổi.
3. Đặc điểm của TNTT không tử vong
- Ngã là nguyên nhân gây TNTT không tử vong lớn nhất ở trẻ em (0 – 17 tuổi). Trẻ lứa tuổi 1 – 4; 5 – 9 và 10 – 14 có tỷ lệ ngã cao gấp đôi so với các nguyên nhân khác. Trong khi trẻ ở lứa tuổi vị thành niên (15 – 17) mắc tai nạn giao thông cao gấp 5 lần so với nguyên nhân tiếp theo
- Tỷ suất TNTT do ngã và tai nạn giao thông cao hơn nhiều so với những loại TNTT khác ở trẻ em và người trưởng thành. Tai nạn giao thông là nguyên nhân hàng đầu gây TNTT không tử vong ở tất cả các lứa tuổi và mức độ nghiêm trọng của TNTT
Kết luận/khuyến nghị
Hệ thống giám sát TNTT đã cung cấp số liệu về thực trạng và các nguy cơ TNTT của nhiều nhóm dân số, đặc biệt là trẻ em. Số liệu được phân tích để xác định các đặc điểm của TNTT và sẽ có các nghiên cứu sâu hơn với những mục đích khác nhau.
Với những kinh nghiệm có được trong quá trình triển khai, mô hình hệ thống giám sát này sẽ trở thành mô hình mẫu áp dụng cho địa phương khác trong cả nước.





