
Dưới đây là một số những nghiên cứu nổi bật được triển khai trong giai đoạn 2001-2010 của Trung tâm:
1. Các nghiên cứu đã triển khai
Nghiên cứu về tình hình tai nạn thương tích và các yếu tố ảnh hưởng ở trẻ dưới 18 tuổi tại Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đồng Tháp, Cần Thơ.
Nghiên cứu về tình hình tai nạn thương tích và các yếu tố ảnh hưởng ở trẻ dưới 18 tuổi tại Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Trị,Thừa Thiên Huế, Cần Thơ, Đồng Tháp, 2008
Nghiên cứu đánh giá tình hình thực hiện chính sách quốc gia về phòng chống tai nạn thương tích trẻ em trong ngành lao động thương binh xã hội, 2008
Nghiên cứu tình hình tai nạn giao thông đường bộ, sự chấp nhận quy định đội mũ bảo hiểm và kiểm soát rượu bia tại 3 tỉnh Yên Bái, Đà Nẵng và Bình Dương, 2007
Nghiên cứu quan sát thực trạng đội mũ bảo hiểm ở 3 tỉnh Yên Bái, Đà Nẵng và Bình Dương, 2008
Nghiên cứu đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành về phòng chống tai nạn giao thông đường bộ và một số yếu tố liên quan ở học sinh trường Trung học Phổ Thông (THPT) Tây hồ, Hà nội năm 2009
Nghiên cứu phân tích tổng quan và chiến lược hoạt động của Traung tâm Nghiên cứu Chính Sách và Phòng Chống Chấn thương
Kiến thức, thực hành về phòng tránh bỏng cho trẻ em dưới 5 tuổi của cha và mẹ trẻ tại xã Thụy Hương, Chương Mỹ, Hà Tây năm 2009
Đánh giá thực trạng kiến thức và thực hành đội mũ bảo hiểm của thanh niên từ 18-24 tuổi, tại Quận Hoàn kiếm, Hà nội sau 6 tháng thực hiện nghị quyết 32/2007-NQ-CP, 2008
Nghiên cứu đánh giá nhu cầu và năng lực đào tạo trong dự phòng và sơ cấp cứu tai nạn thương tích
Nghiên cứu đánh giá chi phí và tổn hại sức khỏe do Tai nạn thương tích không chủ định của bệnh nhân điều trị nội trú tại bệnh viện đa khoa huyện Tiên Du, Bắc Ninh giai đoạn năm 2006-2009
Kiến thức, thực hành phòng tránh bỏng tại nhà cho trẻ dưới 5 tuổi của người chăm sóc trẻ và các yếu tố liên quan tại huyện Gia Lâm năm 2008
2. Các nghiên cứu đang triển khai
Nghiên cứu đánh giá tác động về sức khoẻ, kinh tế và xã hội do tai nạn thương tích ở bệnh nhân nhập viện tại tỉnhThái Bình giai đoạn năm 2009 – 2010
Trung tâm Nghiên cứu Chính Sách và Phòng Chống Chấn Thương đã triển khai dự án can thiệp phòng chống TNTT cho trẻ em tại Thành phố Đà Nẵng trong vòng 2 năm. Chương trình này nhằm mục tiêu giảm thiểu tử vong và TNTT cho trẻ em và người dân trong cộng đồng thông qua các hoạt động can thiệp tại gia đình, trường học và cộng đồng. Chương trình đã được sự ủng hộ, hỗ trợ từ phía các ban ngành địa phương và sự tham gia nhiệt tình của người dân trong quá trình triển khai các hoạt động can thiệp.
Qua đánh giá bước đầu cho thấy, đây là chương trình thực sự hiệu quả tiềm tàng trong việc giảm thiểu TNTT và sẽ là mô hình điểm áp dụng cho các địa phương khác trong nước và trên toàn thế giới.

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng đuối nước là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu cho trẻ em tại Châu Á, đặc biệt là lứa tuổi trẻ nhỏ. Bằng chứng được cung cấp bởi nghiên cứu của tổ chức Liên minh vì sự an toàn trẻ em Hoa Kỳ (TASC) phối hợp với ĐH Y Tế Công Cộng, CIBRB, Chula, UNICEF về đuối nước trẻ em tại châu Á cho thấy ở mức độ biết bơi cơ bản, hay còn gọi là biết bơi tự cứu mình, là yếu tố phù hợp nhất để phòng chống hầu hết đuối nước trẻ nhỏ, xảy ra với trẻ nhỏ trên 5 tuổi. Để có can thiệp y tế công cộng hiệu quả và để hạn chế đuối nước – nguyên nhân gây tử vong hàng đầu, hầu hết trẻ nhỏ trên 5 tuổi cần được dạy về kỹ năng bơi này (khoảng 75% số trẻ cần được dạy).
SwimSafe (Bơi An toàn) là chương trình dạy bơi tự cứu mình cho trẻ em tại khu vực Đông Nam Á. Nó bao gồm 20 bài học về hướng dẫn bơi sống sót, kỹ năng sơ cấp cứu và kiến thức về an toàn nước. Chương trình Bơi An toàn có 2 cấp độ chứng nhận, Cơ bản và nâng cao. Chương trình cơ bản hướng đến đối tượng trẻ nhỏ tuổi hơn, từ 5 tuổi. Chương trình này bao gồm các kỹ năng bơi sống sót cơ bản và các kỹ năng cấp cứu cơ bản (tự cấp cứu).
Chương trình Nâng cao bao gồm các kỹ năng dạy trong chương trình cơ bản và thêm vào đó các kỹ năng cấp cứu nhằm cứu đuối được người khác và các kỹ năng hỗ trợ cứu sống cơ bản (bao gồm cấp cứu hồi sức tim phổi – cardiopulmonary rescuitation CPR). Chương trình này hướng đến những trẻ tự tin với sông nước và có thể trạng và tinh thần đạt yêu cầu để thực hiện các kỹ năng cấp cứu, chương trình này không phù hợp với những trẻ nhỏ hơn 10 tuổi.
Bơi An Toàn Đà Nẵng có sự tham gia của trường ĐH Y Tế Công Cộng (HSPH) và tổ chức TASC. Bơi An Toàn nằm trong cấu phần Cộng đồng An toàn của Dự án An toàn Đà Nẵng. Mô hình Bơi An toàn đã được thực hiện trước đó tại Bangladesh (với 28,000 trẻ được đào tạo thành công trong 3 năm) và đã tiến hành tại vùng nông thôn của Thái Lan năm 2007 và chuẩn bị triển khai tại vùng thành thị của Thái Lan vào giữa năm 2009. Chương trình học Bơi An toàn đã được chứng nhận là an toàn và hiệu quả bởi Liên đoàn An toàn cuộc sống quốc tế (ILS).
Mục tiêu tổng thể của chương trình Bơi An toàn là tập huấn cho trẻ 20 bài học về kỹ năng bơi sống sót nhằm giảm nguy cơ đuối nước cho trẻ.
Các mục tiêu cụ thể của Chương trình Bơi An toàn Đà Nẵng năm 2009 như sau:
Kết quả sau 3 tháng triển khai chương trình, đã có tổng số 4718 trẻ tham gia đánh giá kết thúc chương trình với tiêu chí bơi được khoảng cách 25 m, nổi 90 giây, có kiến thức cơ bản về an toàn nước; và có kỹ năng hồi sinh tim phổi cơ bản (CPR) đối với trẻ lớn hơn 10 tuổi. Số lượng học sinh tham gia đồng đều ở cả hai giới, tập trung chủ yếu trẻ 9 và 10 tuổi. Khả năng bơi 25 mét và nổi 90 giây tăng dần theo độ tuổi và số buổi tham gia học bơi.
GIỚI THIỆU
Theo điều tra cơ bản của Hệ thống giám sát Tai nạn thương tích thuộc Dự án An toàn Đà Nẵng, các số liệu đã chỉ ra rằng có hơn 50% các tai nạn thương tích của trẻ em dưới 6 tuổi xảy ra ở trong và xung quanh nhà. Dựa trên những thông tin này, chương trình Ngôi nhà an toàn được xây dựng như một cấu phần trọng tâm của dự án.
MỤC TIÊU
Chương trình hướng tới sự tiếp cận trực tiếp tới hộ gia đình, sử dụng các cộng tác viên để mang đến một can thiệp đa chiến lược nhằm giảm thiểu các mối nguy cơ trong nhà và cảnh báo các nguy cơ tai nạn thương tích. Chương trình có 2 mục tiêu cụ thể:
(i) Giảm thiểu các nguy cơ tai nạn thương tích trong và xung quanh nhà của trẻ và đồng thời cảnh báo cha mẹ và người chăm sóc trẻ về các nguy cơ tai nạn thương tích trong nhà.
(ii) Thử nghiệm các mô hình lý thuyết khác nhau nhằm đạt được hiệu quả can thiệp.
ĐỐI TƯỢNG
Chương trình hướng tới 2 nhóm đối tượng đích: trẻ dưới 6 tuổi và cha mẹ trẻ/người chăm sóc trẻ.
Chương trình sử dụng 2 nhóm cộng tác viên để tiến hành hoạt động thăm và tư vấn cho hộ gia đình về các biện pháp loại bỏ các nguy cơ tai nạn thương tích trong nhà của họ.
HOẠT ĐỘNG
Cấu phần 1: Cộng tác viên cộng đồng
Chương trình Ngôi nhà an toàn với đội ngũ CTV cộng đồng được triển khai tại 10 phường thuộc quận Thanh Khê, với khoảng 12.000 hộ gia đình có trẻ dưới 6 tuổi.
Cộng tác viên tại cộng đồng (y tế, dân số, hội phụ nữ…) tiến hành thăm toàn bộ hộ gia đình có trẻ dưới 6 tuổi qua 4 vòng. Các cuộc thăm hộ gia đình được thực hiện nhằm phát hiện và đánh giá các yếu tố nguy cơ tai nạn thương tích của trẻ trong nhà cũng như tư vấn cho hộ gia đình qua việc sử dụng Bảng kiểm Ngôi nhà an toàn, Lịch An toàn và Hướng dẫn Sơ cấp cứu ban đầu về tai nạn thương tích cho trẻ.
Sau 5 tháng thử nghiệm và triển khai chương trình, vòng 1 đã hoàn thành tại 2 phường thuộc Thanh Khê. Trong giai đoạn tiếp theo, can thiệp sẽ được mở rộng trên toàn bộ Thanh Khê và 6 quận còn lại trên toàn thành phố Đà Nẵng.
Cấu phần 2: Cộng tác viên giáo viên mầm non
Chương trình Ngôi nhà an toàn được triển khai với đội ngũ giáo viên tại các trường mầm non qua việc thăm hộ gia đình của các học sinh và đưa ra tư vấn cho các phụ huynh. Một số ưu điểm khi lựa chọn đội ngũ giáo viên mầm non:
- Các giáo viên có cơ hội đưa ra các thông điệp an toàn cho trẻ trong quá trình chúng học tập tại trường. Nhờ có mối liên hệ gần gũi với trẻ ở trường, phụ huynh rất quan tâm đến những tư vấn của các giáo viên nhằm đem lại sự an toàn cho ngôi nhà của họ.
- Giám sát trực tiếp là một trong những biện pháp quạn trọng nhất để giữ trẻ an toàn. Các giáo viên là những người trực tiếp chăm sóc và đem lại môi trường an toàn cho trẻ tại trường.
- Tại Băng-la-đét, nước đã triển khai mô hình này, không có các trường mầm non như ở Việt Nam, họ thành lập các trung tâm để chăm sóc trẻ trong ngày.
- Qua việc yêu cầu đội ngũ giáo viên thực hiện công việc thăm và tư vấn cho phụ huynh tại hộ gia đình, chương trình đem lại cơ hội để xây dựng mô hình ngôi nhà an toàn cho trẻ. Điều này sẽ giúp cho việc thực hiện chương trình khả thi và bền vững.
Đối tượng đích: trẻ dưới 5 tuổi và phụ huynh/ người chăm sóc trẻ.
Sau 1 tháng triển khai chương trình từ tháng 5/2009, chương trình đã hoàn thành việc tập huấn cho các giáo viên và giám sát viên chương trình Ngôi nhà an toàn tại 2 trường mầm non trên địa bàn 2 phường. Các giáo viên và giám sát viên có kiến thức và kỹ năng đạt yêu cầu để tiến hành thăm hộ gia đình. Vòng thăm hộ gia đình lần 1 chính thức triển khai từ tháng 6/2009.
KẾT QUẢ
Với 105 cộng tác viên tại cộng đồng và 23 cộng tác viên là giáo viên mầm non, chương trình đã đến thăm 4 lần nhằm đánh giá nguy cơ TNTT trong hộ gia đình và tư vấn cho hơn 15.000 hộ gia đình có trẻ dưới 6 tuổi ở quận Thanh Khê và 300 hộ gia đình có trẻ học tại 2 trường mầm non thuộc quận Hải Châu, Đà Nẵng. Kết quả sau khi tư vấn, tỷ lệ các gia đình cải tạo yếu tố nguy cơ gây TNTT cho trẻ em đã tăng lên ví dụ như tỷ lệ gia đình có tay vịn cầu thang tăng từ 84,1% lên 87,6%; sử dụng thanh chắn tại 2 đầu cầu thang để dự phòng ngã cho trẻ nhỏ tăng từ 18,2% lên 31,6%... Đây sẽ là mô hình điểm cho các địa phương khác trong cả nước áp dụng nhằm giảm thiểu nguy cơ TNTT cho trẻ dưới 5 tuổi tại nhà.
Tai nạn thương tích (TNTT) ở trẻ em không xảy ra một cách ngẫu nhiên. Chúng hoàn toàn có thể phòng tránh được. Để phòng chống TNTT cho trẻ cần thiết phải tạo dựng cho trẻ một môi trường học tập an toàn và cung cấp các kiến thức và kỹ năng cần thiết cho trẻ để trẻ có thể tự nhận biết và phòng tránh các nguy cơ gây TNTT.
Chương trình Trường học An toàn, Dự án An toàn Đà Nẵng đã được thiết kế để đạt được hai mục tiêu trên: thứ nhất là cung cấp kiến thức về phòng chống TNTT cho học sinh để học sinh chủ động phát hiện và dự phòng TNTT cho bản thân mình và thứ hai là xây dựng môi trường trường học an toàn cho học sinh sinh hoạt và học tập tại trường.
Một chương trình giảng dạy phòng chống TNTT cho học sinh tiểu học và mô hình bảng kiểm trường học an toàn đã được xây dựng và thử nghiệm tại thành phố Đà Nẵng và đến nay đã được triển khai trên toàn bộ 99 trường tiểu học trên toàn thành phố. Ở đó, các em học sinh được trang bị kiến thức, thực hành phòng chống những loại TNTT phổ biến thông qua các bài giảng giáo dục tích hợp về phòng chống TNTT trong chương trình chính khóa và ngoại khóa hấp dẫn và bổ ích. Ngoài ra, thông qua việc triển khai mô hình bảng kiểm Trường học an toàn, nhà trường cùng với các em học sinh đã nhận biết và cải tạo được các yếu tố nguy cơ gây TNTT trong trường học nhằm tạo ra môi trường trường học an toàn cho trẻ vui chơi và học tập. Chương trình đã nhận được sự ủng hộ và cam kết từ chính quyền địa phương thông qua lễ tiếp nhận tài liệu giảng dạy tích hợp của Sở Giáo Dục và Đào tạo tp Đà Nẵng ngày 14/10/2009. Ngoài ra, UBND tp Đà Nẵng cũng ra quyết định số 6874/UBND – VX kí ngày 22/10/2009 chỉ đạo việc sử dụng tài liệu này trên toàn bộ các trường tiểu học trên địa bàn thành phố
Cấu phần Thông tin truyền Thông Giáo Dục (IEC) là 1 cấu phần quan trong thuộc Dự án “An toàn Đà Nẵng”- dự án can thiệp phòng chống Tai nạn thương tích (TNTT) cho trẻ em. Cấu phần IEC không hoạt động độc lập mà lồng ghép hỗ trợ cho các cấu phần khác thuộc Dự án bao gồm cấu phần Ngôi nhà an toàn, Trường học an toàn, Cộng đồng an toàn và Hệ thống giám sát. Các hoạt động IEC được thực hiện thông qua các kênh truyền thông khác nhau góp phần nậng cao nhận thức thức của cha mẹ, những người chăm sóc trẻ, các nhà lãnh đạo, các nhà hoạch định chính sách và những nhóm người khác về giá trị của những biện pháp phòng chống (TNTT) ở trẻ em.
Sơ đồ các hoạt động IEC
Thông qua các hoạt động của IEC, người dân sẽ nắm được các phương pháp kiếm tra đánh giá các nguy cơ gây TNTT cho trẻ em, hậu quả và các biện pháp giảm thiểu các yếu tố nguy cơ gây TNTT trong gia đình, cộng đồng và trường học. Bên cạnh đó công tác truyền thông cũng góp phần khuyến khích sự tham gia của cộng đồng và các đối tác địa phương, nước ngoài trong việc phòng chống TNTT trẻ em. Để từ đó hướng tới mục tiêu chung của Dự án là giảm thiểu tỷ lệ TNTT của trẻ em trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
Dựa trên nhu cầu thực tế về tài liệu truyền thông của đối tượng đích và các hoạt động của cấu phần khác thuộc Dự án, cấu phần (IEC) đã xây dựng được các tài liệu truyền thông phong phú về hình thức và ý nghĩa về nội dung phòng chống TNTT ở trẻ em. Các sản phẩm truyền thông này được các cán bộ kỹ thuật trường ĐH Y tế Công Cộng phối hợp chặt chẽ với chuyên gia nước ngoài trong việc xây dựng nội dung và hình thức như tờ rơi, lịch, truyện tranh, các tranh ảnh , băng rôn, video, phóng sự, bản tin trên báo chí tại địa phương, trên báo điện tử liên quan đến dự án và chủ đề phòng chống TNTT ở trẻ em. Đặc biệt, cấu phần IEC đã xây dựng được mối quan hệ tốt với địa phương, các cơ quan truyền thông như Trung tâm Truyền Thông Giáo Dục Sức Khoẻ, Đài truyền hình, Đài phát thanh, các báo địa phương, các báo điện tử…góp phần tuyên truyền các hoạt động và thông điệp truyền thông của dự án đến cộng động 1 cách sâu rộng.
Hệ thống giám sát Tai nạn thương tích tại Đà Nẵng
An Toàn Đà Nẵng (Safe DanangTM) là một dự án phòng chống tai nạn thương tích trẻ em dựa vào cộng đồng được triển khai tại thành phố Đà Nẵng. Bên cạnh các chương trình can thiệp tại nhà, trường học, cộng đồng, Hệ thống giám sát (ISS) được phát triển nhằm củng cố hệ thống giám sát y tế và tai nạn thương tích tại Đà Nẵng và đo lường tác động và hiệu quả của các chương trình can thiệp. Mục tiêu chính của hệ thống giám sát là:
(1). Mô tả gánh nặng và xu hướng của các trường hợp chấn thương tại Đà Nẵng;
(2). Theo dõi các yếu tố nguy cơ dẫn tới tai nạn thương tích;
(3). Theo dõi và giamsats hiệu quả của các hoạt động phòng chống chấn thương.
Phương pháp
Các vòng điều tra thu thập số liệu tại Đà Nẵng trong khoảng thời gian tiến hành dự án:
Số liệu được thu thập bằng cách sử dụng bộ phiếu câu hỏi và bộ phiếu trả lời (Trừ Điều tra cơ bản năm 2006), được phát triển tại Đà Nẵng mà đã sử dụng bộ công cụ trước đó trong các nghiên cứu tương tự tại Băng La Đét, Trung Quốc và Campuchia.
Bộ câu hỏi được phát triển và định dạng đơn giản bằng từ ngữ địa phương. Mỗi câu hỏi có mã định sẵn cùng với các hướng dẫn nhằm giúp cho điều tra viên đạt được hiệu quả công việc cao nhất khi đến thăm hộ gia đình.
Bộ phiếu trả lời được thiết kế để có thể quét được và ghi lại bằng công nghệ nhận diện ký tự thông mình kết hợp với nhập liệu bằng tay đối với các trường tên/địa chỉ có ký tự dài và có dấu tiếng Việt. Trung tâm tin học thống kê khu vực III (COSIS) chịu trách nhiệm nhập toàn bộ phiếu điều tra và chuyển sang bộ số liệu.
Hệ thống quản lý chất lượng phỏng vấn lại ngẫu nhiên 5% số phiếu điều tra thu thập được của điều tra viên để phát hiện ra lỗi sai sót. Đội kiểm tra chất lượng phiếu điều tra làm việc độc lập với điều tra viên và giám sát viên. Họ sẽ sử dụng bộ câu hỏi ngẫu nhiên để đảm bảo chất lượng thông tin thu thập một cách chính xác nhất.
Kết quả
Từ tháng 10/2008 tới tháng 2/2009, có tổng số 20.461 hộ gia đình tham gia phỏng vấn. Trong đó có 2.393 trường hợp TNTT không tử vong và 45 trường hợp TNTT tử vong.
1. Đặc điểm mẫu điều tra
- Dân số: 98.813 người
- Số trẻ em (0 – 17 tuổi): 39.428 người
- Tỷ lệ nam/nữ: 94,9/100
- Nhóm tuổi và giới của mẫu tương tự đối với dân số Đà Nẵng
2. Đặc điểm của TNTT tử vong
- Mô hình TNTT tử vong cho thấy tỷ lệ tử vong lớn nhất nằm ở lứa tuổi 1-4 và giảm dần ở các lứa tuổi lớn hơn.
- Hơn 2/3 số trường hợp tử vong ở trẻ em là do TNTT
- Tử vong có liên quan tới các nhóm tuổi
+ Đuối nước thường xảy ra ở lứa tuổi trẻ nhỏ
+ Tai nạn giao thông và các TNTT không chủ định chiếm số lượng lớn ở lứa tuổi vị thành niên và thanh niên.
+ Ngã thường xảy ra ở người cao tuổi.
3. Đặc điểm của TNTT không tử vong
- Ngã là nguyên nhân gây TNTT không tử vong lớn nhất ở trẻ em (0 – 17 tuổi). Trẻ lứa tuổi 1 – 4; 5 – 9 và 10 – 14 có tỷ lệ ngã cao gấp đôi so với các nguyên nhân khác. Trong khi trẻ ở lứa tuổi vị thành niên (15 – 17) mắc tai nạn giao thông cao gấp 5 lần so với nguyên nhân tiếp theo
- Tỷ suất TNTT do ngã và tai nạn giao thông cao hơn nhiều so với những loại TNTT khác ở trẻ em và người trưởng thành. Tai nạn giao thông là nguyên nhân hàng đầu gây TNTT không tử vong ở tất cả các lứa tuổi và mức độ nghiêm trọng của TNTT
Kết luận/khuyến nghị
Hệ thống giám sát TNTT đã cung cấp số liệu về thực trạng và các nguy cơ TNTT của nhiều nhóm dân số, đặc biệt là trẻ em. Số liệu được phân tích để xác định các đặc điểm của TNTT và sẽ có các nghiên cứu sâu hơn với những mục đích khác nhau.
Với những kinh nghiệm có được trong quá trình triển khai, mô hình hệ thống giám sát này sẽ trở thành mô hình mẫu áp dụng cho địa phương khác trong cả nước.